Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

dịch vụ biên phiên dịch tiếng Đức

Trung tâm tiếng Đức tại Hải Phòng cung cấp các dịch vụ biên phiên dịch Việt-Đức và Đức- Việt như sau:

  -  Các giấy tờ tùy thân
  -  Các văn bản hành chính, giao dịch, thư từ
  -  Phiên dịch sự kiện, giao dịch thương mại
  -  Theo yêu cầu của khách hàng


dịch thuật


Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ miễn phí khách hàng liên hệ với phòng công chứng để hợp thức hóa mọi văn bản, giấy tờ theo yêu cầu.
Liên hệ: tiengduchaiphong.com

dịch vụ biên phiên dịch tiếng Đức

Trung tâm tiếng Đức tại Hải Phòng cung cấp các dịch vụ biên phiên dịch Việt-Đức và Đức- Việt như sau:

  -  Các giấy tờ tùy thân
  -  Các văn bản hành chính, giao dịch, thư từ
  -  Phiên dịch sự kiện, giao dịch thương mại
  -  Theo yêu cầu của khách hàng


dịch thuật


Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ miễn phí khách hàng liên hệ với phòng công chứng để hợp thức hóa mọi văn bản, giấy tờ theo yêu cầu.
Liên hệ: tiengduchaiphong.com

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

Giáo án tham khảo môn Mỹ thuật lớp 6


Giáo án tham khảo môn Mỹ thuật lớp 6


Cùng tham khảo mẫu giáo án môn học Mỹ thuật lớp 6 do Sở GD&ĐT Bình Thuận công bố.


Tiết 1: Vẽ trang trí

Chép họa tiết trang trí dân tộc

I- Mục tiêu:

- Kiến thức: Học sinh nhận ra vẻ đẹp của cácloại hoạ tiết dân tộc.

- Kỹ năng: Học sinh nắm được phương pháp và chép đượchoạ tiết trang trí dân tộc.

- Thái độ: Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của các loại hoạ tiết dân tộc và yêu thích vẻ đẹp truyền thống.

II- Chuẩn bị:

1- Giáo viên

- Sưu tầm các báo, tạp chí, tranh ảnh…có hình về đình chùa và các trang phục dân tộc miền xuôi, miền núi

- Bộ ĐDDH hướng dẫn cách chép hoạ tiết trang trí dân tộc

- Sưu tầm các hoạ tiết ở váy áo, khăn, túi, thổ cẩm…

2- Học sinh

-Vở, bút chì,bút màu, thước, giấy vẽ, gôm.

3- Phương pháp

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp trực quan

- Phương pháp thảo luận

- Phương pháp luyện tập theo nhóm

III- Tiến trình dạy học :

1. Ổn định tổ chức.(Kiểm tra sĩ số lớp)(1phút)

2. Kiểm tra bài cũ. (Nhận xét chấm điểm bài cũ hoặc đặt câu hỏi lý thuyết) (4-5 phút)

3. Bài mới.(Giới thiệu bài mới) (1 phút)
Hoạt động 1.Quan sát, nhận xét các hoạ tiết dân tộc.

Nội dung 

HĐ của GV 

HĐ của HS 

Đồ dùng DH
I. Quan sát, nhận xét các hoạ tiết dân tộc.

(6-7 phút) 



- GV giới thiệu một vài hoạ tiết trang trí ở các công trình kiến trúc (đình chùa) hoạ tiết ở trang phục các dân tộc.

- Tên hoạ tiết ?

- Hoạ tiết này được trang trí ở đâu ?

- Hình dáng chung các hoạ tiết (hình tròn, hình vuông, hình tam giác…).

- Bố cục (đối xứng, xen kẽ, nhắc lại..)

- Hình vẽ (hoa, lá, chim, muông..)

- Đường nét (mềm mại, khoẻ khắn..)

- Màu sắc (ít màu, nhiều sắc độ,tươi sáng…)

- Giáo viên cho học sinh xem một số vật phẩm có hoạ tiết trang trí đẹp : bình, đĩa, thổ cẩm.. để thấy được cách sử dụng hoạ tiết.

- Giáo viên tóm tắt để học sinh thấy được vẽ đẹp đa dạng và ứng dụng rộng rãi của các hoạ tiết.

HS ghi bài.

HS lắng nghe.
HS trả lời

HS chú ý 

Xem tranh, ảnh, tạp chí… có hình hoạ hoạ tiết dân tộc

Hoạt động 2: Cách chép hoạ tiết trang trí dân tộc.
II. Cách chép hoạ tiêt dân tộc

(5-6 phút) 

- GV giới thiệu cách chép hoạ tiết dân tộc ở ĐDDH

+Quan sát hình mẫu tìm đặc điểm chính, tìm trục đối xứng

+ Vẽ phác mảng bằng nét kỉ hà

+ Vẽ chi tiết

+ Vẽ màu

Lưu ý: Tuỳ loại hoạ tiết mà chọn màu cho phù hợp, tránh loè loẹt hoặc nhợt nhạt



HS ghi.

HS chú ý.

Treo ĐDDH hướng dẫn cách vẽ

Hoạt động 3: Thực hành

III Thực hành

(20 phút) 

- Chia nhóm vẽ (2 bàn 1 nhóm)

- HS tự chọn hoạ tiết dân tộc yêu thích

- Vẽ hoạ tiết vừa, cân đối với khổ giấy.

- GV hướng dẫn học sinh làm bài và nhắc lại bước tiến hành bài vẽ.

- GV chỉ ra chỗ được và chỗ chưa được ngay ở bài vẽ của học sinh.

- Hướng dẫn học sinh chọn màu và vẽ màu cho đẹp

HS vẽ bài trên giấy

4. Củng cố(Đánh giá kết quả học tập)(3-4 phút)

- Mỗi nhóm chọn 2-3 bài trưng bày lên bảng

- GV gợi ý học sinh nhận xét bài vẽ về:

+Hoạ tiết là hình gì?

+Hình dáng hoạ tiết đã giống mẫu chưa?

+Màu sắc có đẹp và hài hoà không?

- HS nhận xét và đánh giá theo cảm nhận riêng

- GV nhận xét, động viên và cho điểm khuyến khích.

5. Dặn dò:(1-2 phút)

- Về nhà hoàn thành bài vẽ.

- Chuẩn bị Tiết 2: Sơ lược về mĩ thuật Việt Nam thời kì cổ đại. 

- Sưu tầm hình ảnh thời kì cổ đại.

CSKH Wlike 0916183300 – 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

7 nguyên tắc vàng trong giảng dạy đại học


7 nguyên tắc vàng trong giảng dạy đại học


(Ảnh minh họa)
Làm thế nào để thúc đẩy quá trình học tập của sinh viên một cách hiệu quả? Dựa vào các nghiên cứu về phương pháp dạy và học ở nhiều trường đại học, xin giới thiệu 7 nguyên tắc vàng có thể áp dụng trong giảng dạy đại học.
1. Khuyến khích sự liên hệ giữa sinh viên và giáo viên toàn khoa

Sự liên hệ thường xuyên giữa sinh viên và giáo viên trong và ngoài lớp học là nhân tố quan trọng trong việc tạo động lực học tập cho sinh viên và thu hút sự quan tâm của họ. Sự quan tâm của giáo viên trong khoa sẽ giúp sinh viên vượt qua những giai đoạn khó khăn và tiếp tục học tập. 

Mối quan hệ tốt với một vài thành viên của khoa sẽ thúc đẩy quá trình học tập chuyên môn và giúp sinh viên tự ý thức về giá trị của họ cũng như những kế hoạch cho tương lai.

2. Tăng cường việc trao đổi học tập và sự hợp tác giữa các sinh viên

Quá trình học tập sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nếu có sự cố gắng của đồng đội thay vì việc rượt đuổi cá nhân. Quá trình học tốt, cũng giống như làm việc tốt chính là nhờ sự hợp tác và hòa đồng chứ không phải từ việc cạnh tranh và làm việc đơn lẻ. 

Chính việc hợp tác với sinh viên khác sẽ làm tăng khả năng tham gia tích cực trong quá trình học tập. Trình bày ý tưởng của mình và bình luận ý kiến của người khác sẽ giúp tư duy sắc bén hơn và hiểu vấn đề sâu hơn.

3. Khuyến khích quá trình học tập tích cực

Học tập không phải là một hoạt động một chiều. Sinh viên học tập không phải chỉ ngồi trong lớp nghe giảng, ghi nhớ mớ kiến thức khô cứng và đưa ra những câu trả lời học thuộc trong sách. 

Họ phải cùng nhau thảo luận về những vấn đề họ đang nghiên cứu, viết về nó, liên hệ nó với kiến thức cũ và ứng dụng nó trong cuộc sống hàng ngày. Họ phải biết biến kiến thức sách vở thành một phần kiến thức của họ.

4. Đưa ra nhận xét mang tính gợi ý

Nhận thức được điều gì mình đã biết và điều gì chưa biết là mục tiêu của quá trình học tập. Sinh viên cần những lời nhận xét thích đáng về những gì mà họ làm được để tiến bộ từ khóa học. Khi mới bắt đầu, sinh viên cần sự giúp đỡ trong việc đánh giá những kiến thức đã học và năng lực đã có. 

Trong lớp, sinh viên cần được tạo cơ hội để thực hành và nhận được những gợi ý để tiến bộ hơn. Đến giai đoạn nhất định trong khóa học và vào cuối khóa, sinh viên cần có cơ hội để kiểm tra lại họ đã học được gì, cần học thêm gì và làm thế nào để tự đánh giá được kiến thức của họ.

5. Nhấn mạnh thời gian cho từng việc

Học tập chính bằng thời gian cộng với công sức. Không gì có thể thay thế được thời gian học tập. Học cách quản lý thời gian một cách hiệu quả là việc rất cần thiết, nó thể hiện tính chuyên nghiệp của sinh viên. 

Phân bố lượng thời gian phù hợp cũng có nghĩa là quá trình học tập hiệu quả của sinh viên và quá trình giảng dạy tốt của giáo viên toàn khoa. Việc phân chia thời gian cho sinh viên, nhà quản lý và hội đồng giáo viên dựa vào cơ sở tất cả mọi người đều làm việc hiệu quả cao.

6. Đặt yêu cầu cao

Càng yêu cầu cao thì bạn càng đạt được nhiều hơn. Yêu cầu cao là điều rất quan trọng đối với tất cả mọi người, cho cả những người chuẩn bị sơ sài, và cho cả sinh viên những sinh viên giỏi và thông minh. Những yêu cầu đó sẽ thúc đẩy giáo viên và sinh viên cố gắng nhiều hơn.

7. Tôn trọng các điểm mạnh và kiểu học của từng sinh viên

Có rất nhiều con đường để đạt được mục tiêu học tập. Sinh viên mang tới môi trường đại học nhiều phong cách học và tài năng khác nhau. Những sinh viên xuất sắc trong các buổi thảo luận có thể sẽ không giỏi trong phòng thí nghiệm hay các buổi học nghệ thuật. 

Những người khéo tay có thể không giỏi lý thuyết và ngược lại. Sinh viên cần có cơ hội để thể hiện tài năng và học theo cách phù hợp với họ. Sau đó họ mới có thể học theo cách mà giáo viên yêu cầu.

Tóm lại, mặc dù mỗi nguyên tắc có thể áp dụng độc lập, nhưng tóm lại chúng đều xuất phát từ sáu động lực chính: hoạt động, sự mong đợi, sự hợp tác, sự tương tác, tính đa dạng và trách nhiệm. Chúc các bạn thành công!

CSKH Wlike 0916183300 – 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Chia sẻ kinh nghiệm từ trường chiếm gần 1/3 huy chương Toán quốc tế


Chia sẻ kinh nghiệm từ trường chiếm gần 1/3 huy chương Toán quốc tế


Khối chuyên Toán A0 thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là THPT Chuyên KHTN ĐH Quốc gia Hà Nội vô địch tuyệt đối về số lượng thí sinh tham dự IMO. Trong ảnh: Học sinh Trường THPT Chuyên KHTN chụp ảnh cùng GS Ngô Bảo Châu nhận dịp khai giảng năm học
GD&TĐ - Với 68 huy chương Toán giành được trong các kỳ thi quốc tế trong 40 năm qua, Trường THPT chuyên Khoa học tự nhiên (ĐHQGHN) chiếm gần 1 phần 3 tổng số huy chương của Việt Nam (1 trong 10 nước có thành tích cao nhất).


PGS.TS Nguyễn Vũ Lương - Hiệu trưởng -cho rằng, suy ngẫm một cách thấu đáo, tổng thể, kỹ lưỡng, thì nguyên nhân chính để có được những thành công lớn này là do học sinh đều là những em xuất sắc nhất được tuyển chọn từ mọi miền đất nước;

Bên cạnh đó, các em được dạy dỗ trong Trường ĐH Khoa học tự nhiên, do đó, luôn được sự chăm sóc, dạy dỗ của hầu hết các thầy giáo giỏi nhất của Việt Nam.

“Chắc chắn các học sinh của trường chúng tôi sẽ nhớ mãi sự chỉ bảo tận tình của các thầy. 

Nhiều chuyên gia giáo dục nói với tôi rằng: “Về các trường ĐH của nước ta so với quốc tế thế nào thì tôi không bình luận, nhưng các trường chuyên của Việt Nam không hề thua kém các trường THPT trên thế giới”.

Nếu lấy tiêu chuẩn để so sánh là số huy chương quốc tế mà trường giành được cùng với sự thành đạt của các thế thệ cựu học ính thì các rằng các trường chuyên ở Việt Nam sẽ có đẳng cấp cao.

PGS.TS Nguyễn Vũ Lương

Học sinh của trường đã trải qua bao thế hệ luôn tự hào được học nhiều thầy giáo giỏi nhất như thầy Phan Đức Chính, Nguyễn Văn Mậu, Đặng Hùng Thắng, Vũ Đình Hòa, Nguyễn Khắc Minh, Phạm Văn Hùng, Đỗ Thanh Sơn, Nguyễn Văn Xoa, Phùng Hồ Hải, Nguyễn Chu Gia Vượng…” - PGS.TS Nguyễn Vũ Lương chia sẻ.

PGS.TS Nguyễn Vũ Lương cũng cho biết: Từ những năm 1995 khi một số học sinh không ở Hà Nội, không xin được vào học ở những lớp học do phụ huynh tổ chức, trường chúng tôi tổ chức lớp dự tuyển và ở những lớp này, các em đã được học đầy đủ các nội dung ần thiết với các thầy giáo giỏi. Hơn nữa, thời ấy tiết kiệm được một số tiền học.

Qua các kỳ thi tuyển chọn, chúng tôi phát hiện có nhiều em giỏi nhưng thành tích chưa cao vì không diễn đạt được lời giải của mình hay không biết vận dụng các kỹ năng và kiến thức đac có. Do vậy, trường tổ chức nhiều kỳ thi học sinh giỏi hàng tháng rất có ích.

Năm vừa qua, Trường đại học Khoa học tự nhiên đã tổ chức thành công kỳ thi học sinh giỏi mở rộng qua mạng cùng với các trường chuyên sư phạm Hà Nội, Trường THPT năng khiếu TPHCM, trường chuyên Vũng Tàu, Đồng Nai, Hà Nam cho các học sinh giỏi lớp 10, 11 các môn khoa học tự nhiên.

Để có một đội tuyển mạnh, trong nhiều năm liền, trường cần đào tạo được ít nhất 1 học sinh lớp 11 đi thi quốc tế. Từ sự trao đổi, học tập với học sinh na ỳ, các học sinh cùng khóa hay khóa tiếp theo sẽ tự tin hơn và sẽ cố gắng học tập hơn.

Những thời gian trên lớp là hữu hạn nên nhà trường thường cung cấp tài liệu hướng dẫn học sinh tự học và chỉ có tự học thì học sinh mới nhanh tiến bộ.

Trong những năm gần đây, do việc tổ chức các lớp tập huấn của Bộ GD&ĐT, của Trường đại học Khoa học tự nhiên, của Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán mà sự hợp tác trao đổi lẫn nhau giữa các trường chuyên trên cả nước ngày càng nhiều và chặt chẽ hơn.

“Và tôi, đại diện nhà trường và các em học sinh cảm ơn Viện Toán cao cấp hàng năm đã trao nhiều suất học bổng cho các em học sinh giỏi của trường. Đối với những em học sinh nghèo thì đây là số tiền không nhỏ khuyến khích, động viên các em học tập tốt hơn” - PGS.TS Nguyễn Vũ Lương bày tỏ.

Chia sẻ bởi
CSKH Wlike 0916183300 – 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Co-teaching: Phương pháp dạy tiếng Anh hiệu quả


Co-teaching: Phương pháp dạy tiếng Anh hiệu quả

(Ảnh minh họa)
Một cuộc điều tra gần đây cho thấy tại các trường quốc tế tại Việt Nam, phương pháp dạy học hợp tác (co-teaching) thường được áp dụng khá phổ biến. Vậy phương pháp này là gì và hiệu quả mà nó mang lại ra sao?

Dạy học hợp tác (co-teaching) có nghĩa là hai giáo viên cùng hợp tác với nhau để dạy một tiết học. Họ cùng nhau chuẩn bị giáo án lên lớp, phối hợp giảng dạy, cùng sử dụng các dụng cụ trong lớp học để phục vụ cho bài giảng của mình. Họ có trách nhiệm như nhau đối với các học viên trong lớp.

Một điều dễ nhận thấy là khi áp dụng phương pháp dạy học hợp tác thì tỉ lệ học viên trên một giáo viên sẽ giảm xuống và điều này là một điểm mạnh của phương pháp giáo dục theo kiểu này. 


Ở Việt Nam, phương pháp này chưa phổ biến và chỉ mới được áp dụng ở một vài trường quốc tế. Để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc giảng dạy, có nghĩa là cả học viên và giáo viên cùng hài lòng với bài giảng thì hai giáo viên phải chú ý những điểm sau:



- Thống nhất lịch dạy với nhau, phân công rõ ràng phần việc của từng người để tránh trường hợp cả hai giáo viên cùng muốn dạy một phần trong bài.

- Phân công rõ thời gian làm việc, tránh trường hợp cả hai người cùng nói một lúc.

- Đảm bảo chắc chắn rằng vai trò của cả hai giáo viên trong lớp học là ngang bằng nhau.

- Cả hai có thể thảo luận và thống nhất về vai trò cũng như trách nhiệm của cả hai người trong lớp học.Trong trường hợp bạn dạy chung lớp với ai đó thì đây là một cách mà bạn có thể áp dụng:


1. Một người giảng và một người viếtVới cách này, một giáo viên có thể dạy bằng cách nói và giảng cho học viên nghe, còn người kia có thể ghi lại những ý quan trọng trên bảng để học viên có thể tiện theo dõi. 
Bằng cách chuyên môn hoá này, người giảng sẽ không bị mất cảm hứng hoặc phải nói chậm lại trong khi giảng bài do phải ngừng lại để viết lên bảng. 

Thêm vào đó, mỗi giáo viên đều làm việc với cả lớp học và học viên có thể theo dõi bài học bằng cả hai phương thức khác nhau - nói và viết - một cách liền mạch và thống nhất.

2. Dạy song song

Nếu bạn sử dụng phương pháp này, bạn có thể chia lớp học ra làm hai nhóm theo hai trình độ khác nhau: một nhóm khá và một nhóm kém hơn - mỗi giáo viên dạy một nhóm. Bằng cách này, bạn sẽ phát huy được điểm mạnh của dạy học theo nhóm. 

Đó là học viên trong lớp sẽ được quan tâm và kèm cặp sát sao hơn, cũng như được dạy và học theo đúng với trình độ của mình hơn, tránh được tình trạng các học viên khá phải chờ đợi hoặc học chương trình thấp hơn khả năng tiếp thu của họ, còn học viên kém lại phải học đuổi cho kịp với các bạn khá trong lớp.

3. Dạy so le

Phương pháp này có thể sử dụng khi cả hai giáo viên thống nhất phân chia bài dạy với nhau. Mỗi người sẽ giảng dạy từng phần của bài học. Điểm mạnh của phương pháp này là mỗi giáo viên sẽ được dạy phần bài mà mình chuyên sâu hoặc yêu thích nhất. 

Phương pháp này khá khích lệ giáo viên vì họ có thể chọn giảng những phần mà họ thích và có thể áp dụng cho một hoặc nhiều bài học trong một kỳ học. Tuy nhiên, phương pháp này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa hai giáo viên để tránh tình trạng chồng chéo bài giảng.



4. Một giảng viên cùng làm việc với một trợ giảng

Những người sử dụng phương pháp này thường là những giáo sư danh tiếng vì những người này không muốn mất thời gian vào làm những việc khác khi lên lớp vì như thế thì sẽ mất hết cảm hứng giảng bài và cũng mất thời gian quý báu của họ. 

Vì vậy, phương pháp chọn trợ giảng là phương pháp tối ưu trong trường hợp này. Phương pháp này cũng có thể áp dụng trong các lớp học với chuyên gia người nước ngoài. 

Trợ giảng sẽ đóng vai trò giống như một phiên dịch, giúp giảng viên chính và học viên vượt qua các rào cản về ngôn ngữ khi phải tiếp xúc với những thuật ngữ hay khái niệm khó hiểu.

Quả là dạy học hợp tác mang lại rất nhiều lợi ích phải không các bạn? Hy vọng là sau bài viết này, các bạn sẽ hiểu rõ hơn về phương pháp giảng dạy mới mẻ này và có thể áp dụng nó một cách hiệu quả.

CSKH Wlike 0916183300 – 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2014

CNTT chỉ là công cụ trợ giảng nhiều tiện ích


CNTT chỉ là công cụ trợ giảng nhiều tiện ích


GD&TĐ - Ứng dụng CNTT không đồng nhất với đổi mới phương pháp giảng dạy mà ứng dụng CNTT chỉ là công cụ trợ giảng nhiều tiện ích.



Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học góp phần giúp cho học sinh có thói quen tự học, tự nghiên cứu, tìm hiểu thêm tài liệu ngoài bài giảng của giáo viên ở trường, tìm kiếm tài liệu bổ ích trên Internet để hỗ trợ cho việc học trên lớp, giúp cho học sinh hứng thú học tập hơn.

Ứng dụng CNTT không đồng nhất với đổi mới phương pháp dạy học

CNTT là phương tiện tạo thuận lợi cho triển khai phương pháp dạy học tích cực, không phải là điều kiện đủ của phương pháp dạy học như yêu cầu hiện nay.

Trong những năm gần đây, các phương tiện hỗ trợ - “Công nghệ đa phương tiện” trong quá trình dạy học giáo viên đều áp dụng phương pháp giảng dạy bằng CNTT, như soạn giáo án và trình chiếu từ khâu kiểm tra bài cũ, đến các kết luận của bài dạy và tích hợp lồng ghép tranh ảnh, đoạn video clip, “giáo án điện tử”...

Các bài giảng có khai thác ứng dụng CNTT thường chỉ dừng lại là thay thế chức năng của bảng và phấn và tạo ra các hình ảnh trực quan cụ thể hoặc về quy trình thao tác trên các đối tượng đang nghiên cứu trong bài dạy. 

CNTT giúp trợ giảng rất tốt, những hình ảnh động như tuần hoàn tim, hình không gian 3 chiều hoặc mô phỏng những quy trình thí nghiệm mà ở ngoài không thể làm được… hỗ trợ bài giảng nội dung thêm phong phú và thực tế, học sinh hình dung dễ dàng”.

Một giờ học ứng dụng CNTT là một giờ học phát huy thực sự tính tích cực của học sinh, việc khai thác công nghệ thông tin bảo đảm các yêu cầu và tính đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực mà giáo viên lựa chọn. Việc ứng dụng CNTT trong giờ dạy chỉ là một phần hỗ trợ cho bài dạy.

Không ít giáo viên giảng dạy thường chú ý thiết kế “giáo án điện tử” mà quên việc thực hiện quy trình của giờ dạy theo phương pháp dạy học tích cực, từ đó làm hạn chế hiệu quả của giờ giảng.

Cần sự tương tác giữa thầy và trò qua công nghệ

Sự hỗ trợ của "giáo án điện tử" giúp giáo viên tiết kiệm thời gian ghi bảng, làm các thí nghiệm ảo để tránh độc hại, hình ảnh đẹp… Nhưng nếu một giờ dạy mà chỉ "nhấp chuột" thì lại là một sai lầm. Thực tế một số giáo viên thường dạy tích hợp tất cả bằng giáo án điện tử. 

Học sinh thừa hưởng kết quả vận dụng của giáo viên, học sinh không trực tiếp khai thác CNTT để tiến hành các hoạt động liên quan tới bài dạy. 

Nhưng thực tế, các bài giảng có ứng dụng CNTT đều từ phía người dạy, chứ chưa có sự tương tác giữa thầy và trò thông qua công nghệ.

Dạy học tích cực là thông qua các tổ chức hoạt động của HS, chú trọng rèn luyện học sinh phương pháp tự học. Tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phân phối với hợp tác. 

Quan tâm chú trọng đến hứng thú của người học, nhu cầu và lợi ích của xã hội, coi trọng hướng dẫn tìm tòi kết hợp với đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò.

Đổi mới phương pháp dạy học hiện đang là vấn đề để nâng cao chất lượng dạy học. Đó là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong cải cách giáo dục ở nước ta hiện nay. 

Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên.

CSKH Wlike 0916183300 – 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn